Lịch sử

Lịch sử phát triển bệnh viện

Khoa giải phẩu Bệnh Viện Lê Lợi năm 1939

 

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

    Bệnh Viện Lê Lợi được hình thành từ những năm 1939. Cũng trong khuông viên của bệnh viện ngày nay, một trạm xá được xây dựng với diện tích khoảng 120m2 được chia làm 3 phòng: phòng khám; phòng cấp cứu và phòng sanh. Trạm xá hiện nay không còn nữa, năm 1993 đã được thay thế bằng phòng khám đa khoa của Bệnh viện hiện nay.

    Năm 1946, một nhà bảo sanh được xây dựng phía đường Bà Triệu, lúc này toàn khu trạm xá - hộ sinh chỉ có 10 giường và 2 nữ hộ sinh – nhà bảo sanh ngày nay là khu vực lưu trữ hồ sơ và tiếp nhận hiến máu nhân đạo.

    Năm 1951 trạm xá được đổi tên thành Dispensaire municipale do một người pháp tên là Royboubet phụ trách. Trạm xá có 5 giường và nhà bảo sanh có 12 giường, chủ yếu để giải quyết cấp cứu, bệnh nặng chuyển sang quân y lưu động sau này là bệnh viện Tê Liệt. Năm 1954, bác sỹ Ngô Sỹ Quy di cư từ Bắc vào đến phụ trách bệnh xá thay bác sỹ người Pháp. Tiếp theo là bác sỹ Lê Bá Kim rồi bác sỹ Nguyễn Như Lâm về thay thế.      

    Năm 1962, một phòng mổ được xây dựng ( nay là khoa Xét Nghiệm) gồm phòng giải phẫu và thanh trùng. Từ một trạm xá nay được gọi là Chẩn y viện Lê Lợi.

    Năm 1964 BS Nguyễn Thanh Phước về thay Bs Nguyễn Như Lâm phụ trách Chẩn y viện Lê Lợi. Ông đã mua lại căn nhà trống của một người Pháp được sử dụng làm phòng Giám đốc cho đến ngày nay. Lúc này, Vũng Tàu tách khỏi tỉnh Phước Tuy thành Thị Xã Vũng Tàu và Chẩn y viện được chính thức được đổi tên thành Bệnh viện Lê Lợi, có 50 giường bệnh và 20 nhân viên. Bệnh viện có đào tạo một số cô đỡ nên gọi là Trường cô đỡ Hương Thôn do cô Ba Oanh cán sự hộ sinh phụ trách. Sau một năm học lý thuyết và thực hành, học viên được cấp giấy chứng nhận hành nghề. Giai đoạn này có nhiều phái đoàn Y tế Úc và Đại Hàn thay phiên sang giúp bệnh viện Lê Lợi về công tác chuyên môn để cứu chữa cho người dân và các binh lính ở Vũng Tàu.

    Năm 1967 Bác sỹ Nguyễn Như Lâm trở lại làm giám đốc bệnh viện và sau đó kiêm trưởng y tế Vũng Tàu. Đến thời điểm này bệnh viện có 50 nhân viên, trong đó có 3 Bác sỹ là Nguyễn Như Lâm, Trương Huy Phúc và Đặng Quốc Dung . Tới năm 1969 có thêm bác sĩ Hồ Minh Nguyện, trong những năm này có nhiều phái đoàn y tế Úc, Đại Hàn, Ba Tư , Pháp đến làm việc tại bệnh viện cho tới ngày giải phóng 30/04/1975.

 

Bệnh viện Lê Lợi ngày nay

 

II. XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

    Ngày 30/04/1975, Vũng Tàu hoàn toàn giải phóng. Ban tiếp quản gồm các bác sỹ: Nguyễn Văn Thọ, Dương Văn Hải, Nguyễn Việt Hùng do bác sĩ Nguyễn Văn Trà phụ trách. Ngay trong ngày tiếp quản, bác sĩ Nguyễn Văn Trà đã thực hiện ca phẫu thuật cấp cứu đầu tiên. Lúc này Vũng Tàu là một thị xã thuộc tỉnh Đồng Nai.

    Năm 1979 do thành lập đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo nên bệnh viện lê lợi được đổi tên là Bệnh viện đa khoa đặc khu. Tới 1991, Vũng Tàu sát nhập với một số Huyện Đồng Nai để thành lập Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, từ đó Bệnh viện được lấy tên gọi là Bệnh Viện Lê Lợi.

    Về quy mô giường bệnh, năm 1975 sau ngày tiếp quản bệnh viện có 150 giường và 50 nhân viên y tế. Năm 1991 bệnh viện được nâng lên 180 giường với 217 nhân viên. Năm 1998 bệnh viện đã nâng cấp 200 giường với 235 biên chế, đến năm 2000 bệnh viện được xây dựng kế hoạch hoạt động cho 250 giường bệnh.

    Về xây dựng cơ bản, sau ngày giải phóng được sự quan tâm đầu tư của tỉnh và ngành y tế, bệnh viện đã được nâng cấp chỉnh trang, tu sửa nhiều hạng mục công trình để phục vụ nhu cầu sức khỏe của nhân dân. Năm 1984 xây khu điều trị 3 tầng, năm 1993 xây khoa sản 2 tầng, năm 1995 xây phòng khám đa khoa trên nền bệnh xá 1939 năm xưa, 1998 cải tạo phòng xét nghiệm xây ngân hàng máu, cải tạo khoa sản cũ làm khu dịch vụ theo yêu cầu và năm 2000 cải tạo, nâng cấp toàn bộ mặt bằng bệnh viện và khu nhà điều trị gồm các khoa nội, ngoại, hồi sức cấp cứu, phòng mổ rất khang trang sạch đẹp với kinh phí xây dựng sửa chữa gần 4 tỷ đồng.

    Về nhân sự Bệnh viện đã có sự phát triển vượt bật nhờ sự quan tấm của chính quyền, của lãnh đạo ngành, lãnh đạo bệnh viện cùng sự lỗ lực của đội ngũ y bác sĩ. Năm 1975 bệnh viện chỉ có 50 nhân viên y tế thì cuối năm 2000 bệnh viện đã có 271 nhân viên trong đó có 2 thạc sĩ, 19 bác sĩ chuyên khoa I, 38 bác sĩ, cử nhân,...trung cấp, sơ cấp. Hiện còn nhiều bác sĩ và nhân viên đang theo học chuyên khoa I, cử nhân, một số bác sĩ được đào tạo dài hạn và ngắn hạn tại Pháp, Úc để nâng cao trình độ chuyên môn trở về phục vụ bệnh nhân địa phương.

    Về công tác chuyên môn đã được cải thiện và nâng cao một cách mạnh mẽ, cùng với sự phát triển chung của y học, tập thể y bác sĩ Bệnh Viện Lê Lợi đã không ngừng học hỏi cập nhật và áp dụng những tiến độ khoa học kỹ thuật để phục vụ bệnh nhân. Một số chuyên khoa đã có bước phát triển nổi bất về chuyên môn như:

   1. Chuyên khoa tim mạch: Đã xử trí, cấp cứu, điều trị được hầu hết các bệnh tim mạch tại bệnh viện như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, các bệnh chuyển hóa. Đã áp dụng đặt máy tạo nhịp tim ngoài lồng ngực, sử dụng máy thở 2 mức áp lực dương không xâm nhập, áp dụng nhiều phác đồ cấp cứu nội khoa tim mạch mới nhất của của Việt Nam và thế giới.

   2. Trong lĩnh vực Ngoại khoa: Đã có những thành công đáng kể về ngoại tổng quát như phẫu thuật mở lồng ngực cấp cứu vết thương tim, phẫu thuật đa chấn thương, xử trí phẫu thuật gan, mật, dạ dày, ruột, thận tiết niệu và các loại u bướu. Bên cạch đó chuyên khoa chấn thương chỉnh hình là một mũi nhọn của bệnh viện từ 1994 đã áp dụng phương pháp cố định ngoại vi gãy khung chậu, gãy xương đùi, xương cẳng chân. Bệnh viện đã tiến hành các phẫu thuật tạo hình, ghép da, ghép bảo tồn các bộ phận. Hiện nay Bệnh viện đang xây dựng kế hoạch tách khoa chấn thương chỉnh hình thành khoa độc lập.

   3. Khối liên chuyên khoa Mắt – Tai Mũi Họng – Răng Hàm Mặt: Hiện nay khoa có 3 bác sĩ chuyên khoa mắt, 3 bác sĩ tai mũi họng, 3 bác sĩ răng hàm mặt. đặc biệt chuyên khoa mắt đã có nhiều bước phát triển mạnh về chuyên môn trong việc phục vụ bệnh nhân. Lần đầu tiên áp dụng tại Bà Rịa vũng Tàu các phương pháp mới như: Mổ đục thủy tinh thể bằng Cryode (1993), mổ vi phẫu bằng kính hiển vi phẫu thuật (1994), mổ sụp mi bẩm sinh .v...v... Và bắt đầu tiếp cận mổ Phaco năm 2000. chuyên khoa tai mũi họng (TMH) và răng hàm mặt (RHM) cũng đã triển khai nhiều kỹ thuật mới để phục vụ bệnh nhân như: phẫu thuật xoang, cắt amidan gây mê, trám răng thẩm mỹ, phẫu thuật chấn thương hàm mặt và phục hình cố định.

   4. Khoa y học Cổ truyền và Vật lý trị liệu: Cũng được quan tâm và phát triển mạnh mẽ. Thực hiện phương châm đông tây y kết hợp, khoa đông y đã thực hiện tốt chức năng chuẩn bệnh kê đơn, bốc thuốc và châm cứu. Bên cạnh đó Bệnh viện có 1 cử nhân vật lý trị liệu tổ chức phục hồi chức năng và điều trị cho nhiều bệnh nhân mãn tính. hiện nay khoa đang tiến hành chương trình phục hồi chức năng cho bệnh nhân ngày 1 tốt hơn.

   5. Cận lâm sàng và Trang thiết bị y tế: Bệnh viện cũng đã có những phát triển mạnh mẽ. Năm 1975 chỉ có được một số xet nghiệm máu, nước tiểu thông thường. Nay đã thực hiện được nhiều xét nghiệm sinh hoá, huyết học, miễn dịch cao cấp với các máy móc hiện đại như: máy huyết đồ, máy sinh hoá, đá đo khí động mạch .v..v...về phương diện chuẩn đoán hình ảnh, trước đây chỉ có một máy chụp x quang cũ kỹ, thì nay đã có hai máy chụp hiện đại, ba máy siêu âm, trong đó có một máy siêu âm Dopler màu với nhiều loại đầu dò đa năng. Toàn viện có tới sáu máy đo điện tim, trong đó có một máy đo điện tim 3 tầng. Các máy móc phục vụ cấp cứu, điều trị cũng được trang bị đầy đủ để phục vụ bệnh nhân như: ba máy monitoring và sốc điện, hai máy giúp thở, máy theo dõi huyết áp tự động, hai máy truyền dịch tự động, hai máy gây mê thế hệ mới, dao mổ điện, kính hiển vi phẫu thuật, máy đo khúc xạ tự động, máy đo thính lực, ba ghế khoa đa năng..v..v....đặc biệt năm 1999, bệnh viện được đầu tư đáng kể về công tác chống nhiễm khuẩn với các máy móc hiện đại như: hệ thống rửa tay phẫu thuật tự động, máy giặt ủi công suất lớn, máy hấp dụng cụ và xây lò đất rác với công nghệ hiện đại của ý.

   Bên cạnh một số thế mạnh nổi bật của các chuyên khoa đã nêu thì hầu hết các khoa phòng Bệnh viện hiện nay đều được trang bị các máy móc trang thiết bị y tế hiện đại để phục vụ bệnh nhân.Các phòng chức năng Cận lâm sàng được cải tiến và tổ chức hoạt động đạt hiệu quả cao, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý dược cung cấp đủ thuốc thiết yếu, tránh tai biến và an toàn, tiết kiệm khi dùng thuốc. năm 2000 đã trang bị hệ thống vi tính nối mạng toàn bệnh viện và đang đưa chương trình quản lý chất lượng đồng bộ theo ISO – 9000 vào sử dụng.

 

Khuôn viên bệnh viện Lê Lợi