THUỐC ĐIỀU TRỊ RUNG NHĨ

1/ Dronedarone (biệt dược Multaq tại Hoa-Kỳ).

Dronedarone là chất dẫn xuất Benzofurane với công thức liên quan với Amiodarone, là thuốc chống lọan nhịp tim. Nhưng dùng Amiodarone bị hạn chế vì nhiều tác dụng phụ. Dronedarone có 2 đặc điểm:

-         Lọai bỏ i-ốt trong Amiodarone, nên giảm độc tính ở tuyến giáp;

-         Thêm gốc Methylsulfonate, giảm hòa tan trong chất béo, nên giảm độc tính thần kinh.

Viện nghiên cứu lâm sàng tuyệt hảo quốc gia Liên hiệp Anh (NICE: UK National Institute for Clinical Excellence) đã đưa ra bản đánh giá cuối cùng về Dronedarone trong chứng rung nhĩ.

NICE cho phép đưa Dronedarone vào danh mục thuốc được bảo hiểm nhà nước trả tiền như là điều trị tuyến hai cho bệnh nhân với những yếu tố nguy cơ tim mạch mà rung nhĩ không kiểm sóat được với điều trị tuyến đầu như beta-blocker. Bản thảo lần đầu không cho dùng thuốc này trong rung nhĩ, nhưng nhờ cố gắng rất nhiều của các bác sĩ chuyên khoa bệnh tim và nhóm bệnh nhân rung nhĩ vận động để thuốc này có sẵn trong danh mục thuốc điều trị.

Bản hướng dẫn cuối cùng bảo Dronedarone là 1 chọn lựa để điều trị rung nhĩ không dai dẳng, chỉ khi nào rung nhĩ không kiểm soát được bằng điều trị tuyến đầu (gồm beta-blocker), và cho những người có ít nhất những yếu tố nguy cơ tim mạch sau: cao huyết áp đòi hỏi phải dùng 2 thuốc khác nhóm, bệnh tiểu đường, trước đây có bị cơn thiếu máu cục bộ thóang qua (TIA), đột quỵ hay nghẽn mạch tòan thân, đường kính tâm nhĩ trái ≥ 50 mm, từ 70 tuổi trở lên, tỷ lệ tống xuất (AF) tâm thất trái < 40%. Thuốc không khuyên dùng cho người có tỷ lệ tống xuất < 35% hay người suy tim bậc III hay IV theo phân lọai hội bệnh tim New York (NYHA).

NICE quan niệm mặc dầu Dronedarone không hiệu nghiệm bằng những thuốc chống lọan nhịp tim khác để ngừa rung nhĩ tái phát, nhưng chấp nhận chứng cứ dronedarone không đưa đến tăng nguy cơ tử vong và ít có tác dụng nghịch như Amiodarone.

 

2/ Vernakalant, thuốc mới xóa rung nhĩ:

Thuốc này đang được FDA đánh giá chứ chưa đưa ra thị trường.

Vernakalant đạt được điện thế động tác bằng cách ngăn chặn giòng Na+ và K+. Tác dụng của thuốc này có vẽ hướng về luồng ion K+, đưa đến kết quả kéo dài điện thế tác động tâm nhĩ và kéo dài đường cao nguyên (plateau) điện thế tác động tâm nhĩ, trong khi không ảnh hưởng đáng kể đọan QT hay giai đọan trơ của tâm thất.

Trong nghiên cứu lâm sàng so sánh Vernakalant với giả dược, số bệnh nhân chuyển từ rung nhĩ sang nhịp nhĩ bình thường sau khi dùng Vernakalant đáng kể trên mặt thống kê. Với những bệnh nhân rung nhĩ tiếp tục trong 3-72 giờ, thời gian trung điểm để chuyển sang nhịp bình thường giữa 8 và 14 phút, với 79% người vẫn giữ được nhịp xoang bình thường sau 24 giờ.

Tác dụng dược lý: Vernakalant chẹn kênh Na+ và tác dụng này biến thiên cùng nhịp tim và điện thế màng tế bào tim. Ở nhịp tim thấp và điện thế màng tế bào ở thế nghỉ âm tính, Vernakalant là chất chẹn yếu kênh Na+ kích họat (INa). Khi nhịp tim tăng, ái lực của Vernakalant với INa cũng tăng và chẹn INa nhiều hơn và tác dụng của thuốc xuất hiện nhanh.Ngòai ra, Vernakalant chứng tỏ tách rời nhanh chỗ gắn kết, điều này hấp dẫn cho thuốc chống lọan nhịp tim một khi nhịp tim chậm lại và không còn cần phải chẹn kênh INa nữa. Về điện thế màng tế bào, điện thế bình thường của tâm nhĩ có điện thế nghỉ khỏang chừng -70 đến -80 mV, tức là dương hơn khỏang 10 mV so với điện thế tâm thất. Trong rung nhĩ, khi tâm nhĩ không đủ sức tái phân cực đầy đủ, khác biệt hiệu số điện thế giữa tâm nhĩ và tâm thất tăng lên. Sự khác biệt này dóng vai trò một phần trong tính chọn lọc của Vernakalant chẹn kênh Na+ ở tâm nhĩ và mô bị bệnh trong khi tâm thất bình thường.
Cơ chế tác động nổi bật nhất của Vernakalant là khả năng chẹn một số kênh K+. Đặc biệt, Vernakalant chẹn luồng K+ chọn lọc cho tâm nhĩ, IKur (Kur: K current: kênh K) tham dự vào tái phân cực tâm nhĩ. Ngòai ra, ở nồng độ thấp, Vernakalant chẹn luồng K+ khác chọn lọc cho tâm nhĩ, IKACh (ACh: another channel: kênh K khác), đưa đến kết quả kéo dài khỏang thời gian thế động tác và kéo dài cao nguyên thế động tác tâm nhĩ. Cuối cùng, Vernakalant cũng chẹn kênh Ito (I to one: giòng điện tim tạm thời của luồng K+ chạy ra), tham dự vào thời gian trơ của tâm nhĩ hơn là tâm thất, và -cũng như khi chẹn kênh Na+- sự chẹn này làm cho nhịp tim tăng lên. Cơ chế đặc biệt này làm cho Vernakalant độc nhất so với những thuốc chống lọan nhịp tim khác biểu lộ đảo ngược tính phụ thuộc (thí dụ kéo dài thế động tác ở nhịp tim bình thường nhưng mất hiệu quả khi nhịp tim tăng). Vernakalant cũng chẹn một phần kênh hERG (giòng điện dưới luồng IKr), tác động kéo dài khỏang QT và có thể tạo ra nhịp nhanh tâm thất. Tuy nhiên, sự chẹn này chỉ ở mức tối thiểu, và không có điện sinh lý kết luận hay chứng cứ lâm sàng xảy ra ở nồng độ mục tiêu của Vernakalant.

Tác dụng điện sinh lý (electrophysiology) của Vernakalant tiêm tĩnh mạch được nghiên cứu ở pha I lâm sàng với 10 người tình nguyện khỏe mạnh. vernakalant HCl truyền tĩnh mạch với liều 2 mg/Kg trong 10 phút, tiếp theo trong 35 phút với tốc độ 0.5 mg/Kg/giờ (0.29 mg/Kg trong 35 phút). Thuốc kéo dài thời kỳ trơ của tâm nhĩ và dẫn truyền hạch nhĩ thất nhưng không có tác dụng lên tế bào tâm thất hay tính trơ của hạch nhĩ thất. Trong pha II, 19 bệnh nhân được đánh giá hay điều trị lọan nhịp tim tham dự vào nghiên cứu điện sinh lý so với liều lượng. Tác dụng thấy ở liều 2 mg/Kg trong 10 phút tiếp theo truyền 0.5 mg/Kg/giờ trong 35 phút so với tác dụng của liều 4 mg/kg trong 10 phút tiếp theo truyền 1 mg/Kg/giờ trong 35 phút. Giống như nghiên cứu pha I, người ta thấy kéo dài phụ thuộc liều, thời kỳ trơ của tâm nhĩ và không có tác dụng lên tính trơ của tâm thất. Tuy nhiên, nghiên cứu này cho thấy kéo dài đáng kể nhưng nhỏ của tính trơ hạch nhĩ thất. Đỏan QT và thời kỳ trơ ở tâm thất không kéo dài đáng kể khi dùng vernakalant đưa đến kết luận vernakalant tương đối chọn lọc cho tâm nhĩ.

Vernakalant tiêm hay truyền tĩnh mạch, nên hy vọng sẽ được dùng trong bệnh viện để xóa rung nhĩ hiệu quả. Chúng ta hy vọng sẽ có thông tin đầy đủ khi thuốc này được FDA chấp thuận đưa ra thị trường.

(www.yduocngaynay.com)